Phấn nụ Nhất Chi Mai: “tắm nắng, phơi sương” ở Cố đô Huế

Một viên phấn nụ nhỏ bé có thể mất nhiều ngày để thành hình. Đằng sau lớp phấn mỏng nhẹ ấy là kỹ nghệ thủ công truyền qua nhiều thế hệ, nơi kinh nghiệm của người làm nghề vẫn quyết định những điều máy móc chưa thể thay thế.

Tuổi thơ của chị Trần Thị Thanh Phương (người con thứ bảy của nghệ nhân Phan Thị Tố Như) có một màu rất đặc biệt: khoảng sân “trắng” bởi phấn. Muốn tìm mẹ, cô chỉ cần đi ra phía sau nhà, nơi bà Tố Như thường ngồi lặng lẽ giọt từng viên phấn, đôi tay vẫn làm còn miệng khe khẽ hát. 

Khi có dịp được trò chuyện cùng chị và gia đình, tôi nhận ra di sản đôi khi bắt đầu từ người mẹ đã dành gần nửa thế kỷ lặp lại cùng một công việc; từ những viên phấn phải đi qua lửa, qua nước, rồi nằm im nhiều ngày để “tắm nắng, phơi sương”; đến những người con từng lớn lên bên sân phấn trắng, nay trở về tìm cách giữ nghề của mẹ ở lại. Phấn nụ Nhất Chi Mai vì thế mang một câu chuyện về những người còn thương nó đủ nhiều.

Một viên phấn nụ đi qua lửa, nước, nắng và sương

Nghệ nhân Phan Thị Tố Như, người gìn giữ nghề Phấn nụ Nhất Chi Mai gần nửa thế kỷ

Lần đầu cầm viên phấn nụ trên tay, tôi khá bất ngờ vì nó nhẹ. Viên phấn trắng, nhỏ, bề mặt mộc mạc, chẳng gợi nhiều liên tưởng đến quy trình cầu kỳ phía sau. Chỉ đến khi thử ngồi xuống, chậm rãi giọt từng tầng phấn, lắng nghe ngự phấn nương Trần Thị Ngọc – Quản lý cơ sở Phấn nụ Nhất Chi Mai chia sẻ, tôi mới hiểu vì sao nó có thể khiến người ta dành hàng chục năm để học cách làm cho đúng.

Trong gia đình bà Phan Thị Tố Như, nghề phấn nụ được trao truyền từ một người từng sống trong cung triều Nguyễn. Bà Tố Như tiếp nhận nghề từ năm 16 tuổi. Gần nửa thế kỷ sau, bà vẫn trực tiếp làm phần lớn công việc. Những người con phụ mẹ ở một số công đoạn, đồng thời tìm cách kể lại câu chuyện phấn nụ bằng ngôn ngữ của thế hệ mình.

Nung cao lanh (kaolin) trắng

Sáu công đoạn tạo nên thành phẩm phấn nụ bao gồm: nung cao lanh, nghiền, lọc, nấu thảo dược, giọt phấn, phơi và đóng gói. Mỗi bước đòi hỏi một kiểu kiên nhẫn khác nhau. Cao lanh trắng (kaolin clay) phải được nung trước khi nghiền mịn. Phần bột sau đó trải qua quá trình lọc, ủ rồi kết hợp cùng các nguyên liệu thảo dược. Đến bước tạo hình, phấn được giọt thành bảy tầng gợi nhắc tháp Thiên Mụ. Viên chưa đẹp sẽ làm lại. Tự mình thử giọt phấn, tôi mới cảm nhận cái khó của sự đều tay: mạnh tay một chút, tầng phấn mất dáng; vội một chút, hình hài cũng khác đi.

Nhưng phần đẹp nhất có lẽ đến sau đó. Những viên phấn vừa thành hình chưa thể lập tức nằm trong hộp. Chúng còn phải “tắm nắng, phơi sương” khoảng 5–7 ngày. Nắng được chọn là nắng nhẹ buổi sớm hoặc chiều; sáng sớm, phấn được đưa ra đón sương. Nghe đến đây, cụm từ “tinh hoa đất trời” bỗng bớt trừu tượng. Một viên phấn thực sự đi qua đất, lửa, nước, nắng và sương trước khi chạm lên làn da.

Nghiền caolin

“Cân” mọi thứ từ… đôi tay

Điều khiến tôi ấn tượng hơn cả lại nằm ở phần không thể nhìn thấy trên thành phẩm: kinh nghiệm. Và đó là lý do khiến cho việc truyền nghề làm phấn nụ Nhất Chi Mai rất khó.

Nung cao lanh là một trong những bước khắt khe nhất. Theo gia đình, nguyên liệu non hay quá lửa đôi khi không thể nhận ra ngay bằng mắt; sai lệch có thể chỉ biểu hiện khi phấn đã đi đến những công đoạn sau. Bởi vậy, bà Tố Như từng phải liên tục thử, sai và điều chỉnh để tìm được trạng thái mình mong muốn. Thanh Phương kể về mẹ: “Sau không biết bao nhiều lần sai, cuối cùng mẹ đã thành thạo cách nung mẻ cao lanh cho ra chất phấn như bà muốn, chính là chất Phấn nụ Nhất Chi Mai ngày nay”.

Lọc phấn

Đến khâu phơi, đôi tay lại đảm nhiệm một nhiệm vụ khác. Bà cầm phấn lên, cảm nhận độ nặng, độ mềm để biết mẻ ấy cần thêm nắng hay thêm sương. Như lời gia đình chia sẻ: “Công đoạn này phải do người làm nghề nhiều năm mới có thể biết được phấn đang cần gì, không có công thức chính xác, tất cả chỉ nhờ kinh nghiệm để cảm nhận”. 

Giữ nghề làm phấn nụ Nhất Chi Mai không có nghĩa giữ nguyên mọi thứ

Nhất Chi Mai cũng không cố đóng băng phấn nụ ở một thời điểm trong quá khứ. 

Nấu thảo dược

Khâu nghiền cao lanh hiện tại có sự hỗ trợ của máy móc. Nước mưa thay bằng nguồn nước sạch và nước cất. Một số nguyên liệu hiếm được giản lược. Công đoạn tạo hương cũng thay đổi theo định hướng sản phẩm hiện tại. Trong khi đó, các bước định hình bản sắc của nghề vẫn được gia đình gìn giữ bằng phương pháp thủ công.

Sự chọn lọc ấy khiến tôi nghĩ nhiều về ý nghĩa của hai chữ “di sản”. Một di sản sống có lẽ không cần lặp lại quá khứ đến từng chi tiết. Nó cần biết phần nào tạo nên căn tính của mình để giữ lấy, đồng thời đủ linh hoạt để tiếp tục hiện diện trong đời sống mới.

Giọt phấn

Sau khi tự tay chạm vào phấn, thử làm và trò chuyện cùng những người đã sống với nghề suốt nhiều năm, tôi nhận ra phấn nụ trân quý không nằm ở việc nó cổ xưa đến đâu. Bởi cho tới hôm nay, những viên phấn ấy vẫn đang sản xuất, vẫn được nhiều người dùng và vẫn khiến thế hệ trẻ tò mò muốn thử.

Những giá trị xưa không cần khoác lên mình một diện mạo thật mới để chứng minh rằng chúng thuộc về hiện tại, phải hợp thời. Chỉ cần vẫn còn đôi tay kiên nhẫn giọt từng viên phấn, thì còn người sẵn lòng học cách “tắm nắng, phơi sương”, còn những cô gái trẻ tìm thấy niềm vui khi chạm lớp phấn mỏng lên da, phấn nụ sẽ tự tìm cách bước tiếp. Có lẽ di sản đẹp nhất cũng là như vậy: không nằm yên trong ký ức, mà âm thầm đi từ bàn tay này sang bàn tay khác, từ thế hệ này đến thế hệ khác. 

Phơi phấn và đóng gói

VĂN HÓA VÀ DI SẢN VIỆT:

Harper’s Bazaar Việt Nam

Xem thêm