Phim AI: Điện ảnh cần nhiều hơn là những dòng lệnh công nghệ

Phim AI có thể xuất hiện như một sản phẩm tất yếu của dòng chảy công nghệ nhưng nếu bị lạm dụng quá mức, chúng chẳng khác nào dòng nước biển xâm lấn, khiến vùng đất trí tuệ kiệt quệ dưỡng chất vì ngập mặn.

bzvn-su-xuat-hien-cua-phim-ai-dien-anh-can-nhieu-hon-la-nhung-dong-lenh-1

Dù phim AI phát triển nhưng điện ảnh cần nhiều hơn là những dòng lệnh máy móc. Ảnh: Shutterstock

Mùa hè này, khán giả ồ ạt ra rạp xem The Odyssey – bộ phim bom tấn xây dựng dựa trên sử thi Hy Lạp và quay hoàn toàn bằng máy quay IMAX.

Đạo diễn của phim, ông Christopher Nolan, nổi tiếng với việc hạn chế sử dụng công nghệ như CGI (Computer-Generated Imagery) trong các tác phẩm của mình. Từ những ánh mắt đầy mong chờ và có cả tò mò lẫn dò xét của khán giả xem trong rạp, có thể thấy được sức hút mà một bộ phim không có sự xuất hiện của những công nghệ mới mẻ nhất như AI mang đến.

Thế nhưng, ngành công nghiệp điện ảnh lại không có quá nhiều Christopher Nolan, nhất là trong thời đại mà dòng chảy công nghệ đang dâng lên như sóng trào. Tính “người” của phim ảnh truyền thống cũng đang đối mặt với sự xâm chiếm của phim AI.

Phim làm bằng công nghệ AI: Tiện lợi không có nghĩa là tốt hơn

Phim AI Hoại Huyết. Ảnh: Weibo Hoan Ngu Ảnh Thị

Thế giới chuyển mình sang một kỷ nguyên công nghệ mới với cuộc đổ bộ của trí tuệ nhân tạo. Không ngoại lệ, ngành phim ảnh cũng chịu ảnh hưởng lớn từ trí tuệ nhân tạo khi các công cụ AI dần xuất hiện trong mọi công đoạn của quy trình làm phim. 

Thay vì công dụng ban đầu là tối ưu hóa quy trình làm việc, AI lại trở thành mối đe dọa lớn đến ngành công nghiệp phim ảnh. Việc lạm dụng AI dẫn đến hàng loạt vấn đề về đạo đức, những thách thức liên quan đến quyền riêng tư dữ liệu, algorithmic bias (thiên lệch thuật toán). Nhưng trên hết là vấn nạn suy giảm vai trò của sức sáng tạo trong mỗi con người. Đây mới chính là điều khiến tư tưởng phản đối AI trong nghệ thuật mạnh mẽ hơn bao giờ hết. 

Khi số lượng tác phẩm AI sản xuất ngày càng gia tăng và khó phân biệt với các tác phẩm do con người thực hiện, nhiều chuyên gia trong ngành lo ngại điều này có thể làm xói mòn giá trị cũng như tính toàn vẹn của quy trình sáng tạo truyền thống. Câu hỏi đặt ra là liệu những người đứng đầu ngành công nghiệp điện ảnh có sẵn sàng thiết lập những chuẩn mực đạo đức cho nghệ thuật, hay sẽ để nó dần trượt thành một dây chuyền sản xuất hàng loạt? 

Sự khác biệt giữa công nghệ CGI và AI tạo sinh trong làm phim

Không ít người thắc mắc, trước nay các nhà làm phim vẫn dùng CGI để hỗ trợ trong công tác thực hiện. Nhưng khi những bộ phim AI ra đời lại nhận về nhiều chỉ trích đến vậy. CGI hay AI đều là những hình ảnh vô thực tạo ra bởi công nghệ đó thôi! Vậy đâu là sự khác biệt giữa chúng? 

AI tạo sinh (Generative AI) đã trở thành thuật ngữ phổ biến sử dụng để chỉ nhiều loại công nghệ khác nhau. Giữa làn sóng bùng nổ của AI và những điểm tương đồng về mặt số hóa, không khó để CGI bị nhầm lẫn và xếp chung dưới “tán ô” của AI. Tuy nhiên, hai công nghệ này có bản chất hoàn toàn khác biệt.

CGI tập trung vào việc tạo ra những hình ảnh chính xác thông qua quy trình thiết kế thủ công bằng các công cụ kỹ thuật số. Trong khi AI tạo sinh sử dụng kho dữ liệu hình ảnh sẵn có kết hợp với các câu lệnh (prompt) bằng văn bản để tạo ra hình ảnh một cách nhanh chóng.

Dù AI tạo sinh thu hút sự quan tâm mạnh mẽ trong thời gian gần đây, CGI vẫn được xem là lựa chọn ưu tiên khi cần tạo ra những hình ảnh sản phẩm có độ chính xác cao và mang lại hiệu quả tốt hơn.

Lợi nhuận đi kèm với “chiếc hộp Pandora”

bzvn-su-xuat-hien-cua-phim-ai-dien-anh-can-nhieu-hon-la-nhung-dong-lenh-5

Phim AI Điên Đảo Mộng Tưởng Ảnh: Weibo Hoan Ngu Ảnh Thị

Tại thị trường phim ảnh và công nghệ phát triển mạnh mẽ như Trung Quốc, sự xuất hiện của AI cho thấy những thay đổi rõ rệt từ chất lượng sản phẩm đến lợi nhuận chung của ngành. Trong giai đoạn năm 2025–2026, phim ngắn AI, phim hoạt hình AI đã có cuộc đổ bộ trên các nền tảng mạng xã hội cũng như nền tảng phim online tại đất nước tỉ dân. 

Theo số liệu từ trang thống kê DataEye, trong nửa đầu năm 2026, quy mô thị trường phim ngắn AI nội địa Trung Quốc đã vượt 22 tỉ nhân dân tệ (NDT), dự kiến cả năm có thể đạt 40 tỉ NDT. Số lượng người dùng phim ngắn AI trong nước đã vượt 600 triệu người. Chỉ riêng trên nền tảng Douyin, trong nửa đầu năm nay, đã có thêm 221.900 bộ phim ngắn AI mới.

Dữ liệu từ Hiệp hội Nghe nhìn Trực tuyến Trung Quốc cho thấy, trong tổng số 128.000 bộ phim mới ra mắt trên toàn mạng trong quý I–2026, phim ngắn AI chiếm tới 122.000 bộ, tỉ lệ hơn 95%. Có thể nói, AI đã dùng chưa đầy một năm để hoàn thành chặng đường tăng trưởng sản lượng mà phim ngắn người thật phải mất ba bốn năm mới đạt được. Việc sản xuất phim AI luôn định sẵn là mô hình “một vốn bốn lời” khi chi phí sản xuất chưa đến vài chục ngàn NDT. Bên cạnh đó, đội ngũ làm phim ít người, chưa đầy một tuần có thể hoàn thành một tác phẩm, lợi nhuận hàng triệu NDT mỗi tháng. 

AI hạ thấp các rào cản chi phí và nhân công cho việc sản xuất phim, nhưng cách sáng tạo nội dung ăn xổi này khiến tỉ lệ sản phẩm thể loại này bị xóa sổ cũng rất cao. Phim AI thường có những lỗi cơ bản như hình ảnh giả tạo, khuôn mặt nhân vật không nhất quán, thậm chí có cả nhiều chi tiết méo mó của cơ thể nhân vật. Suy cho cùng, điều khán giả muốn xem vẫn là cảm giác chân thực của con người, trong khi phim AI chỉ là những bản vẽ thiếu sót của thuật toán.

Phim AI sản sinh ra càng nhiều, lượng người xem càng ít đi. Bằng chứng là hiện tại nền tảng Douyin cũng đã gỡ bỏ hơn 10.000 phim AI chất lượng thấp. Tổng cục Phát thanh – Truyền hình Trung Quốc cũng đã hoạch định kế hoạch hỗ trợ các nhà sản xuất làm phim chất lượng cao, hỗ trợ nội dung được diễn xuất bằng người thật với giá trị 6 tỉ NDT. 

Công nghệ AI không nên là lý do để các nhà sản xuất phim trở nên lười biếng và dựa dẫm. Chắc chắn AI cũng không thể làm “đui chột” những giá trị nghệ thuật còn đang tồn tại. Phim AI là cơ hội của ngành sản xuất nội dung nhưng cũng mở ra chiếc hộp Pandora đẩy người làm sáng tạo vào cạm bẫy lợi nhuận ảo.

“Chúng ta từng sống trong một thế giới của những cung điện, giao thương và ngôn ngữ, mù quáng trước vẻ đẹp của chúng, cho đến khi chúng ta phá hủy chúng”

– Odysseus (Matt Damon đóng) trong phim The Odyssey –

Không có công thức cố định cho nghệ thuật điện ảnh

BZVN-THE-odysseus-new-trailer (7)

Ảnh: Phim The Odyssey

Hãy cùng quay lại với phim bom tấn The Odyssey. Khán giả có nhiều góc nhìn và cảm nhận về nội dung mà đạo diễn Christopher Nolan muốn truyền tải. Mặc cho những tranh cãi, nhìn chung, họ vẫn trân trọng tư tưởng và nỗ lực làm phim không lạm dụng CGI của ông và các cộng sự. 

Để có thể mang The Odyssey tới công chúng, những cuộn phim nặng trịch và thông số biên tập nội dung tương ứng được chuyển đến FotoKem (Burbank, California) –phòng thí nghiệm phim điện ảnh cuối cùng trên thế giới sản xuất bản phim 70mm, định dạng của phim IMAX. Bản phim liền mạch mà khán giả xem ở ngoài rạp là những tấm phim âm bản được Ron Juarez – một kỹ thuật viên dựng phim lành nghề trong phòng thí nghiệm cắt và dán hoàn toàn bằng tay.

Do vậy, việc xem những tác phẩm như The Odyssey cũng là cơ hội mà người yêu điện ảnh được chứng kiến điều kỳ diệu trong thời đại số hóa và trí tuệ nhân tạo. 

bzvn-su-xuat-hien-cua-phim-ai-dien-anh-can-nhieu-hon-la-nhung-dong-lenh-2

Một khung hình cận mặt diễn viên Cillian Murphy trong vai J. Robert Oppenheimer Ảnh: Phim điện ảnh Oppenheimer

Nhắc về tính mỹ học của ngôn ngữ hình ảnh trong phim của Christopher Nolan, người ta không thể bỏ qua cái tên Hoyte van Hoytema – Giám đốc Hình ảnh (Director of Photography). Hoyte đã hợp tác không chỉ với Nolan mà cả các đạo diễn từ nổi tiếng đến nghiệp dư của Hollywood, để chứng minh rằng không có công thức cố định cho sự thành công cinematography (nghệ thuật và kỹ năng kể chuyện bằng hình ảnh của điện ảnh) mỗi bộ phim. 

Không có công thức lặp lại như những dòng lệnh, phim của Hoyte lấy cảm xúc con người làm trung tâm. Triết lý quay phim của Hoyte là ngôn ngữ hình ảnh của một bộ phim cần tạo sự cộng hưởng sâu sắc về mặt cảm xúc với khán giả. Đồng thời đưa họ hòa mình vào câu chuyện và khơi dậy những phản ứng chân thực. Thông qua việc kiểm soát ánh sáng, màu sắc và bố cục khung hình, Hoyte tạo nên những không gian điện ảnh giàu tính nhập vai, góp phần nâng cao hiệu quả kể chuyện.

Diễn viên Joaquin Phoenix trong phim Her. Ảnh: Warner Bros. Pictures

Những tác phẩm như Her (2013), Interstellar (2014) và Oppenheimer (2023) là minh chứng rõ nét cho khả năng chuyển hóa những cảm xúc và ý tưởng phức tạp thành các trải nghiệm thị giác giàu sức lay động. Hoyte đã quay Oppenheimer bằng cả phim đen trắng và phim màu, tạo nên ngôn ngữ hình ảnh song hành để kể câu chuyện trải dài từ những không gian nội thất chật hẹp, ngột ngạt đến các trường đoạn có quy mô rộng lớn và đầy tính sử thi. 

Ở phim Her, Hoyte lại có cách biểu đạt vô cùng dịu dàng. Ý đồ dành cho bộ phim là tạo nên diện mạo tương lai và đầy mộng mơ cho thành phố Los Angeles. Nhìn vào hình ảnh ngay từ đầu, người xem có thể nhận thấy tông màu ấm khá đậm và phong cách tương phản thấp, phản ánh sự u ám, cô độc và tĩnh mịch bủa vây lấy nhân vật nhưng với cảm xúc rất lãng mạn. 

Mỗi bộ phim đều mang đậm dấu ấn sáng tạo riêng của Hoyte van Hoytema. Các tác phẩm điện ảnh của ông thể hiện sự linh hoạt trong phong cách cũng như cam kết bền bỉ với việc khắc họa vẻ đẹp, tính chân thực và chiều sâu của con người thông qua ngôn ngữ hình ảnh. 

Tạo nên giá trị xã hội khi không dùng thuật toán

Đạo diễn Christopher Nolan và các cộng sự trên phim trường The Odyssey. Ảnh: Universal Studios

Mặc dù AI chưa ảnh hưởng đến công việc của những nhân vật lớn như Nolan hay Hoyte, thì việc lạm dụng công nghệ này vào quy trình làm phim cũng đe dọa “miếng cơm manh áo” của vô số nhà làm phim nghiệp dư. Khi khán giả tiếp xúc đủ lâu với phim AI, người xem sẽ chỉ tặc lưỡi tự hiểu giá trị tạo dựng bằng thuật toán, thay vì thắc mắc “đạo diễn đã quay dựng cảnh này bằng cách nào?”, “diễn viên đã phải trải qua những gì mới có thể diễn ra cảm xúc ấy?”

Trên cả mặt nội dung, một tác phẩm thành công là khi tác phẩm ấy khơi gợi được sự hứng thú cũng như tò mò ham học hỏi của khán giả sau khi xem. Ví như Emily Wilson – dịch giả sử thi Odyssey (2017) – gửi lời cảm ơn đến đạo diễn, bởi bộ phim đã mang khán giả quay lại với các rạp phim truyền thống. 

“Có lẽ bộ phim sẽ thuyết phục được kha khá các nhà quản lý trường học rằng họ không nên xóa bỏ các khoa ngôn ngữ, văn học và lịch sử trong giảng dạy”, Wilson nói. Và sự thật là có rất nhiều khán giả sau khi xem The Odyssey đã quay lại tìm đọc văn học Hy Lạp cổ đại hay sử thi của Homer. 

Những đạo diễn như Nolan đang góp phần đưa công chúng trở lại với những trang sử thi và văn hóa đọc. Thật tuyệt khi một câu chuyện đã tồn tại ngàn năm vẫn có thể kết nối con người và những lời thì thầm vọng về từ quá khứ. Đây mới chính là ý nghĩa sâu xa của phim ảnh nói riêng và nghệ thuật nói chung.

Liệu chỉ vì lợi nhuận trước mắt, chúng ta có thể mãi ỷ lại vào AI và làm kiệt quệ đam mê nghệ thuật hay chăng? Con người có thể không ngừng phát triển công nghệ. Chỉ là chúng ta không được phép quên những điều cốt lõi đã tạo nên nền văn minh của thế giới này.  

SỰ XUẤT HIỆN CỦA AI TRONG ĐIỆN ẢNH – TRUYỀN HÌNH:

Harper’s Bazaar Việt Nam 

Xem thêm